Thuyết minh về Đại Nội Huế – quần thể di tích Cố đô Huế

Lịch sử dân tộc trải qua hàng ngàn năm đô hộ, từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đến những năm trường kì chống Đế Quốc Mỹ, từ thời kỳ Hùng Vương đến chế độ cai trị của những vị vua chúa nhà Nguyễn.

Trải qua biết bao thăng trầm nhưng những công trình kiến trúc vẫn còn nguyên vẹn. Dưới đây là bài thuyết minh về Đại Nội Huế, một trong những di tích mà lịch sử để lại.

Bài viết số 1: Thuyết minh về Đại nội – Kinh thành Huế

Trong hành trình du ngoạn từ Bắc đến Nam sẽ có rất nhiều địa điểm tham quan, du lịch nổi tiếng như chùa Một Cột, Vịnh Hạ Long, Thánh Địa Mỹ Sơn hay chùa Linh Ứng ở trên ngọn núi cao với tượng Phật Bà Quan Âm cao nhất đất nước trú ngụ tại bán đảo Sơn Trà của tỉnh Đà Nẵng,…

Nhưng đi đâu về đâu, dấu chân đầu tiên xuất phát cho cuộc hành trình vẫn là Huế – nơi vẫn còn tồn tại nhiều công trình kiến trúc đến những nét văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam thời xưa – đã thu hút biết bao nhiêu thế hệ đến tham quan và chiêm ngưỡng.

Trong số đó ta không thể nào không kể đến Đại Nội Huế – một trong những cụm quần thể di tích của Cố Đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa Thế giới.

Thuyết minh về Đại nội - Kinh thành Huế

Lịch sử dân tộc trải qua hàng ngàn năm đô hộ, từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đến những năm trường kì chống Đế Quốc Mỹ, từ thời kỳ Hùng Vương đến chế độ cai trị của những vị vua chúa nhà Nguyễn cuối cùng của thế hệ để tạo nên đất nước Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam như ngày hôm nay, chúng ta đã phải vất vả và cực nhọc biết bao nhiêu.

Giờ đây những tháng năm thăng trầm đó đã không còn, con cháu của ngày hôm nay lại càng thấy thêm tự hào không chỉ về những chiến tích chống giặc ngoại xâm của ông bà ta mà còn là những giá trị tinh thần, giá trị vật chất dù mưa bom, bão đạn có hủy diệt, dù sức mạnh của thời gian có tàn phá thì vẫn còn tồn tại và duy trì đến mai sau.

Một trong những di sản vĩ đại ấy là Đại Nội Huế của quần thể di tích Cố Đô Huế được xây dựng vào năm 1805 dưới thời nhà Nguyễn. Theo sử xưa, sau hơn 400 năm là trung tâm văn hóa chính trị của nhà nước phong kiến Việt Nam, kinh đô Huế thất thủ rơi vào tay thực dân Pháp năm 1885, buộc vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương.

Từ đó, ở Huế xảy ra các cuộc chiến tranh dữ dội và cũng là tiền đề để đào tạo và nuôi dưỡng những nhà lãnh đạo tài ba trẻ tuổi như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh…

Sau thời gian chiến đấu gan dạ và vất vả, vua Gia Long đã đánh bại quân Tây Sơn, dành lại Phú Xuân, thống nhất vương triều và chính thức lên ngôi Hoàng đế. Gia Long là vị vua đầu tiên của triều đình nhà Nguyễn.

Đối với việc tái lập lại cơ đồ, xây dựng Quốc gia thì việc xây dựng cho mình một kinh thành vững chắc, kiên cố để bảo vệ hoàng tộc và ngai vàng là một điều tất yếu đối với các vị vua chúa và vua Gia Long đã chính thức bắt đầu cho xây dựng Kinh thành Huế vào năm 1805 nhưng mãi đến năm 1833 ( dưới thời vua Minh Mạng ) Kinh thành mới được hoàn thành.

Theo nguyên tắc kiến trúc dựa vào Dịch học, phong thủy học, vũ trụ quan phương Đông, vua Gia Long cho xây dựng Cố Đô Huế là Kinh thành Huế theo hướng Nam. “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ”- vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ.

Theo các kỹ sư ở thế kỷ XIX, hướng Nam là một hướng tốt như ông bà ta thường hay nói ” Lấy vợ hiền hòa xây nhà hướng Nam” – theo phong thủy để cai trị thiên hạ trong sự bình an, không có chiến tranh, đoạt quyền đoạt vị.

Nhắc đến Kinh thành Huế, ta lại nghĩ ngay đến bốn yếu tố góp phần quan trọng trong việc bảo vệ kinh thành: núi Ngự Bình (che chắn kinh thành tránh những luồng khí độc), dòng sông Hương thơ mộng, Cồn Hến (làm Tả Thanh Long) và Cồn Dã Viên (làm Hữu Bạch Hổ) trên sông Hương theo thế rồng chầu hổ phục.

Được xây dựng với diện tích khoảng 520 ha, chu vi 10km, cao 6,6m và dày 21m, Kinh thành Huế xây dựng được chia làm 3 vòng thành: Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành (tính từ ngoài vào trong).

Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu cho bạn hiểu rõ về Hoàng thành và Tử Cấm Thành hay còn gọi chung là Đại Nội Huế. Đại Nội Huế trước đây là trung tâm chính trị, hành chính của hoàng gia và cũng là nơi ăn ở của nhà vua. Hoàng thành là vòng thành thứ hai của Kinh thành Huế với hơn 147 công trình với diện tích chừng 38 ha.

Hoàng thành được xây bằng gạch cao khoảng 4m và dày hơn 1m. Bên ngoài được bao bọc bởi hệ thống hồ Kim Thủy.

Bên trong Hoàng thành bao gồm các khu vực trọng yếu: Khu vực phòng vệ, khu vực cử hành đại lễ, khu vực dành để thờ cúng, nơi dành cho Hoàng thái hậu (mẹ của vua), nơi để các hoàng tử, công chúa học tập, thư giãn, Phủ Nội Vụ,…được xây dựng theo một nguyên tắc chặt chẽ, nghiêm minh “Tả nam hữu nữ”, “Tả võ hữu vô”, “Tả chiêu hữu mục”.

Hoàng thành được xây dựng với bốn cửa chính: cửa Hiển Nhơn (nằm ở phía Đông, dành cho nam giới và quan lại ra vào), cửa Chương Đức ( nằm ở phía Tây, dành cho Hoàng Quý Phi và các tỳ nữ), cửa Hòa Bình (ở phía Bắc) và cửa Ngọ Môn (ở phía Nam).

Trong bốn cửa ra vào của Hoàng thành thì cửa Ngọ Môn là cửa chính dành cho vua và đoàn tùy tùng hầu hạ theo sau ra vào. Vốn dĩ trước đây, Nam Khuyết Đài là nơi dành cho vua nhưng dưới thời của vua Minh Mạng năm 1833 đã cho xây dựng lại và đổi tên là Ngọ Môn.

Ngọ là giờ Ngọ (tính theo giờ hồi xưa) là lúc mặt trời lên cao nhất ( ví như vua). Ngọ Môn là chỉ hướng Nam – hướng tốt lành, tràn đầy sinh khí và thuận lợi, thiên hạ thái bình. Cửa Ngọ Môn đươc xây dựng với kiến trúc khá phức tạp bao gồm phần nền đài phía dưới và phần lầu bên trên.

Phần nền đài phía dưới được xây theo dạng hình chữ U bằng đá và gạch, cạnh đáy khoảng 56m, cao chừng 5m. Hình chữ U dài tới 27m có tổng cộng ba cửa ra vào.

Cửa chính giữa đặt tên là Ngọ Môn dành cho vua ra vào và hai cửa hai bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn quan võ theo hầu.

Phần lầu phía trên hay còn gọi là lầu Ngũ Phụng là một trong những công trình có kiến trúc đẹp nhất trong Hoàng thành. Dựa theo kiến trúc của cửa Ngọ Môn, lầu Ngũ Phụng được xây dựng theo hình chữ U gồm hai tầng lầu và hai tầng mái.

Được xây dựng trên độ cao 1,14m, lầu Ngũ Phụng có khung lầu được dựng trên 100 cây gỗ lim như tượng trưng cho bách tính người dân trong thiên hạ.

Tại đây, cửa Ngọ Môn được xem là bộ mặt của Quốc gia và là nơi diễn ra các lễ hội như: lễ Truyền Lô, lễ Ban Sóc (nhà vua phát lịch hàng năm cho năm mới), lễ Tiếp xứ thần các nước ( trong đó có Trung Quốc), lễ Duyệt Binh…

Dưới sự cai trị hơn 143 năm của vương triều nhà Nguyễn, cửa Ngọ Môn như là nhân chứng chứng kiến những năm tháng thăng trầm của đất nước và cũng chính nơi đây, ngày 30 tháng 8 năm 1945 vua Bảo Đại đã thoái vị, trao chính quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam. Tại đây, ông đã từng nói:

“Trẫm thà làm dân cho một nước tự do còn hơn làm vua cho một nước nô lệ”

Phía sau Ngọ Môn là cầu Trung Đạo, qua sân Đại Triều là đến Điện Thái Hòa. Điện Thái Hòa là nơi thiết triều và tổ chức các cuộc đại lễ dựng trên nền hình chữ nhật cao hơn mặt đất phía ngoài sân khoảng hai mét rưỡi và được trang trí hình rồng vờn mây.

Đến với Điện Thái Hòa , du khách sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc vô cùng độc đáo của nơi đây như tiền điện nằm ở phía trước cao hơn 10m, gồm 7 gian chính; bờ mái và bờ nóc được trang trí bằng hình rồng; chính giữa nóc điện gắn hình trang trí hình bầu rượu bằng pháp lam; đồ nội thất trong điện được trang trí theo lối nhất thi-nhất họa…

.Điện Thái Hòa tuy đã nhiều lần được trùng tu những tới ngày hôm nay nó vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên đầu của vương triều nhà Nguyễn. Trong Hoàng thành, ở phía sau Điện Thái Hòa là Tử Cấm Thành.

Tử Cấm Thành là khu vực quan trọng nhất được xây theo dạng hình vuông, mỗi cạnh khoảng 300m, vòng thành cao chừng 3,5m. Bên trong Tử Cấm Thành được cho xây dựng hơn 50 công trình kiến trúc khác nhau như Điện Cần Chánh, Điện Càn Thánh ( nơi vua ở), cung Khôn Thái, Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung), nơi dành cho vua đọc sách,….

Đến với Đại Nội Huế, du khách còn có thể đi qua tham quan lăng của chín trong 13 vị vua chúa của triều Nguyễn, trong đó có lăng của vua Gia Long ( vị vua triều Nguyễn đầu tiên).

Là một cụm di tích quần thể của Cố Đô Huế, Đại Nội Huế vẫn giữ được khá nguyên vẹn những công trình kiến trúc thời xưa của vị vua chúa nhà Nguyễn. Là một trong những di sản chứa đựng nhiều giá trị tượng trưng cho trí tuệ và tâm hồn của thời phong kiến, Cố Đô Huế đến ngày nay đã được Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế trùng tu, khôi phục được 132 công trình, hạng mục.

Đặc biệt, khi đến nơi đây, du khách không chỉ tận mắt chứng kiến thành quả trí tuệ của đời nhà Nguyễn mà còn được hòa nhập, tham gia các lễ hội đặc trưng, tái hiện các nghi thức của cung đình như Đêm hoàng cung, lễ đổi gác ( bắt đầu từ 9h-9h30), biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế,…rất sôi nổi và vô cùng độc đáo như khiến cho bạn quay trở về với thời kỳ nhà Nguyễn với bức tranh lễ hội hoàng cung rực rỡ, sáng lung linh khiến người phải thích thú và cũng không kém phần ấm cúng giữa chốn đông người tham gia.

Là cụm quần thể di tích Cố Đô Huế được công nhận là di sản văn hóa Thế giới từ năm 1993 đã thu hút hàng nghìn khắp du lịch đến tham quan và chiêm ngưỡng.

Mỗi khi đi đâu về đâu, chỉ cần nhắc đến Huế, ta lại nhớ đến Cố Đô Huế – tiêu biểu hơn là Đại Nội Huế – một công trình kiến trúc vô cùng độc đáo và tuyệt vời.

Những vẻ đẹp văn hóa, những công trình kiến trúc cổ xưa, những nghi thức cung đình,.. tất cả đều được lưu giữ tại nơi đây.

Qua bài thuyết minh về Đại Nội Huế, chúng ta một phần nào đó đã mường tượng lại những cảnh sắc cung đình uy nghi lộng lẫy của thời nhà Nguyễn.

Giới thiệu Vũ Thanh Bình 134 bài viết
Một cô giáo dạy văn yêu rất tâm huyết với nghề của mình, muốn thích viết những kiến thức có được trong nghề để chia sẻ cho mọi người. Vì thế Mọi người nhất là các em học sinh thân yêu hãy đón chờ những bài viết tiếp theo của mình và hãy ủng hộ mình nhé.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*